Skip to main content

‘Huyền thoại trong văn học piano’: Để chơi được bản nhạc khó này, cần những ngón tay thép và một trái tim bốc lửa

Để chơi được bản nhạc khó này, cần những ngón tay bằng thép, một trái tim bốc lửa như nham thạch và sự can đảm của sư tử…

Variations on a Theme of Paganini – By Johannes Brahms
(Biến tấu trên chủ đề của Paganini – Bởi Johannes Brahms)

Nghệ sĩ Alexander Gavrylyuk trình diễn

 Biến tấu trên một chủ đề của Paganini, Op. 35 là một tác phẩm dành cho piano sáng tác vào năm 1863 bởi Johannes Brahms, dựa trên Caprice số 24 La thứ của Niccolò Paganini.

Johann Brahms (1833-1897)

Brahms đã khiến tác phẩm vượt xa khỏi sự đơn giản, bởi chủ đề ông biến tấu rất đồ sộ; mỗi biến tấu lại có những đặc điểm riêng. Ông đã xuất bản nó như nghiên cứu cho piano. Tác phẩm toát lên những nét phẩm chất rất đặc trưng của Brahms, đó là sự lãng mạn đầy màu sắc tinh tế. Tác phẩm đã được sáng tác riêng cho bậc thầy piano Carl Tausig.

Tác phẩm cũng được biết đến với chiều sâu cảm xúc và những thách thức kỹ thuật. David Dubal mô tả nó như là "Một huyền thoại trong văn học piano". Clara Schumann gọi nó là Hexenvariationen ("biến tấu phù thủy") vì nó quá khó.

Để chơi chúng đòi hỏi những ngón tay bằng thép, một trái tim bốc cháy như nham thạch và sự can đảm của một con sư tử.

Tác phẩm nằm gọn trong hai cuốn sách. Mỗi cuốn sách mở ra với chủ đề của Paganini Caprice số 24 La thứ, sau mười bốn biến thể. Các biến thể cuối cùng trong mỗi phần đều là bậc thầy.

Mời quý vị cùng thưởng thức những ngón tay đàn huyền diệu của bản nhạc được coi là một trong những biến tấu khó nhất này:

Kim Cương

 

Có thể bạn quan tâm :


  • Nghe lại ca khúc gốc tuyệt đẹp: Có ánh sáng tuyệt vời ấm áp hơn mặt trời, là nụ cười của người tôi yêu…

  • Nghe lại bản gốc tuyệt đẹp: Chuyện tình cây vĩ cầm ngân lên gắn với con tàu định mệnh Titanic

  • Thông điệp Chân Thiện Nhẫn thay đổi cuộc đời nữ nhà báo nổi tiếng

Comments

Popular posts from this blog

Người không tin Phật hỏi: ‘Đức Phật có oán hận, nổi giận không?’, vị tỳ kheo trả lời quá thuyết phục

Với những ai vẫn còn kiên cố cho rằng 'không thấy thì không thể tin', có lẽ sẽ phải đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác khi lắng nghe cuộc đàm thoại dưới đây giữa một vị tỳ kheo và một người không tin Phật. Tỳ kheo Nāgasena sống vào khoảng những năm 150 TCN. Câu chuyện nổi tiếng về cuộc đàm thoại giữa ông và nhà vua Ấn-Hy Lạp Di Lan Đà Vương còn lưu truyền đến ngày nay, cho thấy trí huệ của một bậc tu hành. "Ông sinh chẳng cùng thời với Phật Đà, cũng chưa từng gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, thì sao ông biết rằng có Phật Đà?" Một lần nọ Di Lan Đà Vương cố ý muốn làm khó vị tỳ kheo bèn quở trách mà rằng: "Ông sinh chẳng cùng thời với Phật Đà, cũng chưa từng gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, thì sao ông biết rằng có Phật Đà?". Vị tỳ kheo thông minh bèn hỏi lại: "Thưa đại vương, vương vị của ngài là ai truyền lại?". "Cha ta truyền lại cho ta!". "Vương vị của cha ngài do ai truyền lại?". "Ông nội ta". "Vương vị của c...

‘Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao’, câu nói thâm trầm sâu sắc, ít người thấu hiểu

Đại đa số độc giả chúng ta đều nghĩ "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao" cũng giống như câu "Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng", và đều có nghĩa là "Coi nhẹ, coi thường cái chết". Tuy nhiên ý nghĩa đích thực của nó không phải vậy. Rất nhiều người đã quen thuộc với câu thơ trong "Chinh phụ ngâm": "Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao Giã nhà đeo bức chiến bào Thét roi cầu Vị ào ào gió thu". Đây là bản dịch của nữ sỹ Đoàn Thị Điểm, còn trong bản gốc chữ Hán của Đặng Trần Côn thì 4 câu thơ trên nguyên văn như sau: "Trượng phu thiên lý chí mã cách Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao Tiện từ khuê khổn tùng chinh chiến Tây phong minh tiên xuất Vị kiều". Dịch nghĩa: "Chí bậc trượng phu rong ruổi ngoài ngàn dặm, sẵn sàng da ngựa bọc thây Thái Sơn ném xuống nhẹ như lông hồng Bèn từ biệt chốn khuê phòng (vợ) tòng quân chinh chiến Tiếng roi ngựa vang lên trong gió tây (gió thu), tráng s...

Tứ đại cổ điển hí kịch (P.2): Mẫu Đơn Đình, thiên tình sử lãng mạn thiên thu

Trong bốn vở kịch cổ điển của làng kinh kịch Trung Hoa, có hai vở nói về tình yêu và hôn nhân trong thời xưa. Nếu như đánh giá Tây Sương Kí là một vở kịch có giá trị về chủ đề này thì người ta dường như chỉ dùng nó là đòn bẩy để tô vẽ lên một vở kịch được coi là lu mờ đi cả Tây Sương Kí, đó chính là vở Mẫu Đơn Đình. Mẫu Đơn Đình hay còn gọi là Hoàn hồn ký hay Đỗ Lệ Nương mộ sắc hoàn hồn ký là một trong những vở kịch nổi tiếng trong lịch sử sân khấu Trung Quốc, do nhà soạn kịch nổi tiếng thời kỳ nhà Minh là Thang Hiển Tổ viết năm 1598 mà đến nay vẫn được người Trung Hoa nghiên cứu dựng lại và diễn xướng. Tại sao Mẫu Đơn Đình lại làm lu mờ đi Tây Sương Kí, phải chăng tính li kì và cảnh giới cũng như thông điệp của Mẫu Đơn Đình mang theo là giá trị to lớn choáng ngợp đi Tây Sương hí kịch? Mẫu Đơn Đình cũng là một thiên tình sử lãng mạn thiên thu Đỗ Lệ Nương là con gái độc nhất của quan thái thú Nam An Đỗ Bảo. Nàng vừa xinh đẹp, dịu hiền, vừa thông minh, nhanh ý. Ngay từ nhỏ được đọ...