Skip to main content

Vua Lê Thánh Tông tặng người dân nghèo khổ một câu đối, mấy trăm năm hậu thế còn suy ngẫm

Nhân dịp đầu năm mới, vua Lê Thánh Tông mặc thường phục vi hành để xem xét tình hình dân chúng. Ði tới đâu, nhà vua cũng thấy la liệt những câu đối ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị, trong lòng vui mừng lắm. Riêng nhà nọ, chẳng treo đèn, kết hoa mà cũng chẳng thấy đối liễn gì hết.

Vua lấy làm ngạc nhiên, rẽ vào hỏi. Chủ nhà trả lời rằng: "Chẳng giấu gì bác, nhà cháu làm cái nghề hèn hạ quá, nên chẳng dám khoe khoang gì với ai cho thêm tủi!". 

Vua ngạc nhiên, hỏi: "Sao lại có nghề gì là nghề hèn hạ?". 

Chủ nhà thưa: "Dạ, nhà cháu chỉ chuyên đi… mót phân người để bán thôi ạ!". 

Nghe xong, vua cười nói: "Nếu vậy nhà bác đây là sang trọng bậc nhất, mà nghề của bác cũng là vẻ vang bậc nhất. Câu đối của bác nếu dán lên cũng hay bậc nhất, việc gì mà lại kêu là hèn!". 

Nói đoạn, vua lấy giấy bút, đề giùm cho một đôi câu đối như sau:

Ý nhất nhung y, năng đảm thế gian nan sự
Ðề tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm

Tạm dịch:

Khoác một áo bào, đảm đang khó khăn thiên hạ
Cầm ba thước kiếm, tận thu lòng dạ thế gian

Khách qua lại, nhìn thấy câu đối ai cũng kinh ngạc trầm trồ.

(Chân dung vua Lê Thánh Tông. Ảnh dẫn theo nguoinoitieng.tv)

***

Vua Lê Thánh Tông đã ứng xử đúng theo phong cách của một vị minh quân, đức độ sáng ngời. Câu đối của vua vừa tài hoa, tràn đầy khí phách, cũng vừa rất hợp cảnh, hợp tình, quả đúng là tuyệt vời.

"Đảm đang khó khăn thiên hạ", "Tận thu lòng dạ thế gian"… đều là những việc làm của bậc quân tử, chẳng ai có thể nghĩ đó là lời ví von cho công việc của một anh chàng gánh phân!

Thế nhưng, trên đời không có loại nghề nghiệp nào là thấp kém, hèn hạ. Nếu bạn có thể dụng tâm, làm thật tốt phần việc của mình thì chính là đang có một nghề nghiệp tuyệt vời nhất.

Một người quét rác suốt ngày tay lấm chân lem, bụi bặm dính đầy, mồ hôi nhễ nhại nhưng nào có ai chê việc họ làm là thấp hèn, hạ tiện? Con đường bạn đi, khu phố bạn ở liệu có còn giữ được dáng nét nên thơ, trữ tình nữa khi một sáng thức dậy không còn nhìn thấy những người lao công?

(Ảnh dẫn theo thivien.net)

Người công nhân đào than cả ngày bị vùi lấp trong hầm lò, mặt mũi nhem nhuốc, hít đầy bụi khói nhưng nếu không có cái nhem nhuốc ấy chẳng phải rất nhiều người sẽ không có đủ than nấu bếp, sưởi ấm trong mùa lạnh giá đó sao?

Chẳng cần phân biệt sang hèn, nhọc nhằn, chỉ cần có thể đảm đương được những việc khó khăn ít người làm được trên đời, chỉ cần sống tròn đạo nghĩa, thu phục được nhân tâm thì nghề nghiệp nào cũng trở thành vô cùng cao quý.

Ngược lại, dù làm thứ nghề nghe có vẻ cao sang đến đâu, mà tâm địa hẹp hòi, đánh rơi đạo đức, thì lại càng trở nên tai hại.

Tử Du 

Có thể bạn quan tâm :


  • 'Không tham' mới chính là báu vật vô giá của đời người

Comments

Popular posts from this blog

Những thông điệp sâu sắc Nguyễn Du gửi gắm qua Truyện Kiều (P.3): Trời đất vô tình đâu có chiều theo cái tình của con người mà vận tác?

Người xưa coi văn chương là một hành vi sáng tạo rất thiêng liêng. Văn là để chuyên chở Đạo Đức. Nó như kim chỉ nam chỉ đạo những con chữ sinh thành dưới ngọn bút lông. Vì thế, văn chương là cái Chí, là quan niệm nghiêm túc về cuộc sống. Tài năng nhà thơ nhà văn có khả năng định hướng cho cả một cộng đồng đi vào cái Đẹp của Đạo đức cao cả. Chúng ta hãy chiêm nghiệm điều đó qua Truyện Kiều của Nguyễn Du.  Xem thêm: Phần 1  và  Phần 2 Trong đôi mắt nhiều tiên cảm về thân phận, nàng Kiều thấy điều chẳng lành trong lần đầu tiên chơi xuân. Đó là cảnh của một ngày trong mùa xuân muộn, rất riêng, rất đặc trưng về một ngày chơi xuân của 3 chị em Thúy Kiều. Ngày xuân con én đưa thoi …(Ảnh: pinterest.com) Ở đây, ngày xuân có sáng, có chiều, có lễ, có hội, có 3 chị em, có cái nhìn và tâm sự rất riêng tư của Kiều, có Kim Trọng, có Đạm Tiên, có đêm xuân thổn thức, có sáng hôm sau chim hót xa gần và có cả bông hoa liễu " b...

Tứ đại cổ điển hí kịch (P.2): Mẫu Đơn Đình, thiên tình sử lãng mạn thiên thu

Trong bốn vở kịch cổ điển của làng kinh kịch Trung Hoa, có hai vở nói về tình yêu và hôn nhân trong thời xưa. Nếu như đánh giá Tây Sương Kí là một vở kịch có giá trị về chủ đề này thì người ta dường như chỉ dùng nó là đòn bẩy để tô vẽ lên một vở kịch được coi là lu mờ đi cả Tây Sương Kí, đó chính là vở Mẫu Đơn Đình. Mẫu Đơn Đình hay còn gọi là Hoàn hồn ký hay Đỗ Lệ Nương mộ sắc hoàn hồn ký là một trong những vở kịch nổi tiếng trong lịch sử sân khấu Trung Quốc, do nhà soạn kịch nổi tiếng thời kỳ nhà Minh là Thang Hiển Tổ viết năm 1598 mà đến nay vẫn được người Trung Hoa nghiên cứu dựng lại và diễn xướng. Tại sao Mẫu Đơn Đình lại làm lu mờ đi Tây Sương Kí, phải chăng tính li kì và cảnh giới cũng như thông điệp của Mẫu Đơn Đình mang theo là giá trị to lớn choáng ngợp đi Tây Sương hí kịch? Mẫu Đơn Đình cũng là một thiên tình sử lãng mạn thiên thu Đỗ Lệ Nương là con gái độc nhất của quan thái thú Nam An Đỗ Bảo. Nàng vừa xinh đẹp, dịu hiền, vừa thông minh, nhanh ý. Ngay từ nhỏ được đọ...

‘Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao’, câu nói thâm trầm sâu sắc, ít người thấu hiểu

Đại đa số độc giả chúng ta đều nghĩ "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao" cũng giống như câu "Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng", và đều có nghĩa là "Coi nhẹ, coi thường cái chết". Tuy nhiên ý nghĩa đích thực của nó không phải vậy. Rất nhiều người đã quen thuộc với câu thơ trong "Chinh phụ ngâm": "Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao Giã nhà đeo bức chiến bào Thét roi cầu Vị ào ào gió thu". Đây là bản dịch của nữ sỹ Đoàn Thị Điểm, còn trong bản gốc chữ Hán của Đặng Trần Côn thì 4 câu thơ trên nguyên văn như sau: "Trượng phu thiên lý chí mã cách Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao Tiện từ khuê khổn tùng chinh chiến Tây phong minh tiên xuất Vị kiều". Dịch nghĩa: "Chí bậc trượng phu rong ruổi ngoài ngàn dặm, sẵn sàng da ngựa bọc thây Thái Sơn ném xuống nhẹ như lông hồng Bèn từ biệt chốn khuê phòng (vợ) tòng quân chinh chiến Tiếng roi ngựa vang lên trong gió tây (gió thu), tráng s...