Skip to main content

Làm thế nào để hàng phục những ‘con ngựa dữ’ trong tâm bạn?

Làm người, không ai có thể chưa từng mắc sai lầm. Có câu: "Mỗi lần ngã là một lần bớt dại/ Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần". Sự cay đắng của lỗi lầm đôi khi không nằm ở thiệt hại vật chất, mà lại là ở áp lực tinh thần khi bị chỉ trích.

Có thể tâm bình khí hoà đón nhận những lời chỉ trích là kết quả của công phu tu dưỡng sâu dày. Có thể cúi đầu nhận lỗi và sửa lỗi là sự tiến bộ to lớn trên con đường tu tâm dưỡng tính, hàng phục ma tính của bản thân. Đức Phật ví những người bị đả kích, tổn thương và phản ứng tiêu cực vì những lời chỉ trích như "những con ngựa dữ" khó điều phục. Có 8 hạng người như thế, đó là:

Hạng thứ nhất: Hạng người khi được bạn bè chỉ dạy lỗi lầm cứ chối bai bải, bảo: "Tôi không nhớ, tôi không nhớ!" Giống hệt con ngựa dữ bị tra hàm thiếc và quất roi da vào mông, vẫn còn hục hặc không chịu đi.

Hạng thứ hai: Khi được chỉ lỗi, bèn đứng làm thinh, không nhận cũng không chối, giống như con ngựa dữ đứng dựa gọng xe không chịu đi.

Hạng thứ ba: Khi bị chỉ lỗi, liền hỏi trở lại người chỉ lỗi mình: "Huynh cũng phạm như tôi sao dám chỉ lỗi tôi?", giống như con ngựa dữ, ngã nhào xuống đất, trầy đầu gối, gãy gọng xe.

Tâm thái chỉ lỗi người khác khó không chế như chú ngựa không chịu nghe lời mình. (Ảnh: pinterest.com)

Hạng thứ tư: Loại người phản ứng bằng cách quạt lại người chỉ lỗi mình: "Ðồ ngu, phận huynh còn phải nhờ người chỉ dạy sao dám lên mặt chỉ dạy tôi!", giống như con ngựa dữ cứ thụt lui không chịu bước tới.

Hạng thứ năm: Kẻ hay nói lái sang chuyện khác, đem lòng thù hiềm oán hận người nhắc nhở mình. Như con ngựa dữ chạy bừa vào đường hiểm, làm cho xe bể bánh, gãy trục.

Hạng thứ sáu: Kẻ không sợ tội lỗi, không ngán chúng tăng, không cho ai chỉ lỗi, lấy đồ bỏ đi. Giống như con ngựa dữ bất kể nài và roi, ngậm hàm thiếc chạy càn, vô phương kiềm chế.          

Hạng thứ bảy: Phản ứng lộn ngược, y đứng giữa hội chúng khua tay nói lớn: "Ai cho phép mấy người dạy khôn tôi!". Như con ngựa dữ dựng ngược hai chân và sùi bọt mép.

Hạng thứ tám: Loại dữ dằn nhất, nói ong óng: "Mấy người có cho tôi y bát, toạ cụ thuốc men không mà dám sửa sai tôi?". Nói chưa xong đã giận, còn xả giới, lột y vứt bên đường, nghênh mặt hỏi chúng tăng: "Tôi đã hoàn tục rồi, mấy người vừa lòng hả dạ chưa?" Hạng người này giống như con ngựa dữ nằm bẹp giữa đường.

Khi đọc đến đây, tôi tự hỏi mình thuộc hạng nào trong tám loài ngựa dữ kia vậy? Và tôi phát hiện ra trong tâm mình có cả tám con ngựa dữ. Mỗi khi bị chỉ trích và hạ nhục, trong tâm tôi lại nhao nhao những tiếng oán hờn, những lời biện minh, những lời cay độc, mỗi lần một khác.

Tuy có thể ước chế mình nhưng tôi chỉ làm được ở bề ngoài, gặp tình huống trong tâm vẫn xung đột dữ dội như con ngựa thứ hai vậy. Vậy mới biết tu dưỡng nội tâm khổ sở thế nào! (Ảnh: pinterest.com)

Noi theo gương đạo đức cao thượng của người xưa nên tôi cố gắng kiềm chế những ý nghĩ xấu xa đó và giữ im lặng, như người đánh xe cố gắng ghìm dây cương để con ngựa hung dữ không thể làm càn. Tuy nhiên, tôi phát hiện ra rằng mình mới chỉ làm được trên bề mặt, còn trong tâm vẫn bứt rứt khó chịu, chính là như con ngựa hạng hai: "Khi được chỉ lỗi, bèn đứng làm thinh, không nhận cũng không chối, giống như con ngựa dữ đứng dựa gọng xe không chịu đi".

Chung quy lại cũng vì cái tâm kiêu ngạo không vứt xuống được, chấp trước vào tự ngã, không cho người khác đụng đến mình, nên gây ra thống khổ trong tinh thần.

Muốn đạt đến nội tâm an tĩnh, có thể khiêm tốn nhận lỗi khi bị chỉ trích, chỉ có cách là hàng phục con ngựa dữ trong tâm mình, thuần hoá nó, chính là quá trình trừ dứt ma tính của bản thân. Quá trình này trong Nho gia gọi là "tu thân", sau khi tu thân thì mới có thể "tề gia", "trị quốc", "bình thiên hạ". Trong Đạo gia gọi là "phản bổn quy chân", quay trở về bản tính nguyên sơ chân thật thuần phác của mình. Câu chuyện bốn thầy trò Đường Tăng đi Tây Trúc thỉnh kinh Phật, Tôn Ngộ Không dọc đường đi không ngừng trừ yêu diệt quái, chính là ẩn dụ của quá trình tu luyện, hàng phục tâm ý này.

Những con ngựa dữ vẫn ẩn nấp trong tâm chúng ta hàng ngày, bạn có nguyện ý hàng phục chúng không?

Đoàn Phạm

Có thể bạn quan tâm:


  • Quản lý mua hàng Samsung: "Chân Thiện Nhẫn cho tôi trí tuệ thông suốt để giải quyết mọi vấn đề"

  • Trong đời có 7 điều phải nhẫn để làm một người thành công và có tĩnh khí

  • Làm người vì sao phải nhẫn nhịn? Có thể nhẫn mới có hậu phúc

Comments

Popular posts from this blog

Người không tin Phật hỏi: ‘Đức Phật có oán hận, nổi giận không?’, vị tỳ kheo trả lời quá thuyết phục

Với những ai vẫn còn kiên cố cho rằng 'không thấy thì không thể tin', có lẽ sẽ phải đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác khi lắng nghe cuộc đàm thoại dưới đây giữa một vị tỳ kheo và một người không tin Phật. Tỳ kheo Nāgasena sống vào khoảng những năm 150 TCN. Câu chuyện nổi tiếng về cuộc đàm thoại giữa ông và nhà vua Ấn-Hy Lạp Di Lan Đà Vương còn lưu truyền đến ngày nay, cho thấy trí huệ của một bậc tu hành. "Ông sinh chẳng cùng thời với Phật Đà, cũng chưa từng gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, thì sao ông biết rằng có Phật Đà?" Một lần nọ Di Lan Đà Vương cố ý muốn làm khó vị tỳ kheo bèn quở trách mà rằng: "Ông sinh chẳng cùng thời với Phật Đà, cũng chưa từng gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, thì sao ông biết rằng có Phật Đà?". Vị tỳ kheo thông minh bèn hỏi lại: "Thưa đại vương, vương vị của ngài là ai truyền lại?". "Cha ta truyền lại cho ta!". "Vương vị của cha ngài do ai truyền lại?". "Ông nội ta". "Vương vị của c...

‘Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao’, câu nói thâm trầm sâu sắc, ít người thấu hiểu

Đại đa số độc giả chúng ta đều nghĩ "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao" cũng giống như câu "Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng", và đều có nghĩa là "Coi nhẹ, coi thường cái chết". Tuy nhiên ý nghĩa đích thực của nó không phải vậy. Rất nhiều người đã quen thuộc với câu thơ trong "Chinh phụ ngâm": "Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao Giã nhà đeo bức chiến bào Thét roi cầu Vị ào ào gió thu". Đây là bản dịch của nữ sỹ Đoàn Thị Điểm, còn trong bản gốc chữ Hán của Đặng Trần Côn thì 4 câu thơ trên nguyên văn như sau: "Trượng phu thiên lý chí mã cách Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao Tiện từ khuê khổn tùng chinh chiến Tây phong minh tiên xuất Vị kiều". Dịch nghĩa: "Chí bậc trượng phu rong ruổi ngoài ngàn dặm, sẵn sàng da ngựa bọc thây Thái Sơn ném xuống nhẹ như lông hồng Bèn từ biệt chốn khuê phòng (vợ) tòng quân chinh chiến Tiếng roi ngựa vang lên trong gió tây (gió thu), tráng s...

Tứ đại cổ điển hí kịch (P.2): Mẫu Đơn Đình, thiên tình sử lãng mạn thiên thu

Trong bốn vở kịch cổ điển của làng kinh kịch Trung Hoa, có hai vở nói về tình yêu và hôn nhân trong thời xưa. Nếu như đánh giá Tây Sương Kí là một vở kịch có giá trị về chủ đề này thì người ta dường như chỉ dùng nó là đòn bẩy để tô vẽ lên một vở kịch được coi là lu mờ đi cả Tây Sương Kí, đó chính là vở Mẫu Đơn Đình. Mẫu Đơn Đình hay còn gọi là Hoàn hồn ký hay Đỗ Lệ Nương mộ sắc hoàn hồn ký là một trong những vở kịch nổi tiếng trong lịch sử sân khấu Trung Quốc, do nhà soạn kịch nổi tiếng thời kỳ nhà Minh là Thang Hiển Tổ viết năm 1598 mà đến nay vẫn được người Trung Hoa nghiên cứu dựng lại và diễn xướng. Tại sao Mẫu Đơn Đình lại làm lu mờ đi Tây Sương Kí, phải chăng tính li kì và cảnh giới cũng như thông điệp của Mẫu Đơn Đình mang theo là giá trị to lớn choáng ngợp đi Tây Sương hí kịch? Mẫu Đơn Đình cũng là một thiên tình sử lãng mạn thiên thu Đỗ Lệ Nương là con gái độc nhất của quan thái thú Nam An Đỗ Bảo. Nàng vừa xinh đẹp, dịu hiền, vừa thông minh, nhanh ý. Ngay từ nhỏ được đọ...