Skip to main content

Muốn cưỡi trường phong, phá sóng muôn dặm

Tông Bính và Tông Xác
Thời Nam triều chú hỏi cháu đáp
Thấm thoát đã nghìn năm.

Gió vạn lý đuổi mây vạn lý
Vần vũ trong thiên địa tuần hoàn
Khách vạn lý tìm theo ý chí
Tâm hữu cầu, tu luyện gian nan

Người hỏi người bao la trời đất
Mấy ai mang trời đất làm màn?
Người ngoảnh lại nhìn trong trời đất
Người với người cùng tận mê man.

Người hỏi người bao la trời đất. Mấy ai mang trời đất làm màn? (Ảnh: Pinterest.com)

Đường hôm nay ngày sau cỏ lấp
Chuyện hôm nay đời sau nhạt mất
Cớ chi lòng sầu uất
Chuyện công danh

Thế nhân tình
Bao ưu oán
Với nhục vinh
Bạn với bạn so kè từng chặp

Tâm nhỏ nhen, chí bất lập
Sống bon chen, đời hấp tấp
Người với người tranh tranh chấp chấp
Đời vô minh, Thiện tâm đều mất
Oán ai?

Đường hôm nay ngày sau cỏ lấp. Chuyện hôm nay đời sau nhạt mất. (Ảnh: Pinterest.com)

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao (*)
Nhân gian những ba đào
Lòng ta tìm yên ả

Thu về, nhìn xác lá
Xuân đến, ngắm hoa mai.

Nhân gian những ba đào. Lòng ta tìm yên ả. (Ảnh: Pinterest.com)

Vạn Lý Khách

(*) Mượn thơ cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Lời bình:

Trung Quốc thời Nam triều có người chú tên Tông Bính hỏi chí hướng của đứa cháu nhỏ là Tông Xác. Tông Xác đáp: "Nguyện thừa trường phong, phá vạn lý lãng", nghĩa là "Muốn cưỡi trường phong, phá sóng muôn dặm". Sau này "Thừa phong phá lãng" đã thành câu cửa miệng của những bậc có chí khí lớn lao muôn đời.

Gió và mây đi làm một cặp. Gió vô hình, mây vô tướng, vì cùng hư vô nên có thể trường cửu, vì nhẹ nhõm nên bay được lên cao, vì không mang nặng nên đi được xa vạn dặm. Thiên địa dẫu đổi thay mà phong vân vẫn sẽ thế mãi. Siêu phàm thoát tục không thể đoán định. Trong khoảng trời đất, chỉ có kẻ có chí lớn mới hiểu được nhân sinh thực tại mà vô thường nhỏ bé biết nhường nào, trong chiếc túi màn trời chiếu đất, ai sẽ là kẻ rạch nó thoát ra? Đó là kẻ phải có can đảm và ý chí, đi xa muôn dặm mà không nghĩ gì được và mất, sống và chết, vinh với nhục, ưu cùng oán của người đời. Xưa nay người ta chỉ biết có tướng quân đảm lược mà không biết có kẻ tầm Đạo kiên cường, dẫu chẳng chỉ trong hiểm nguy thiên bình vạn mã, mà còn vượt trên cả mọi cám dỗ, những khen chê, được và mất trong sự cô đơn. Ý nghĩa thực sự của Đại Đạo, chỉ kẻ ngộ tính cực cao mà ý chí mãnh liệt mới có thể đi tìm. Tìm chỉ vì mong muốn được tìm thấy, như nước sông về biển lớn, không phải vì bất cứ điều gì khác.

Chuyện nhân thế vẫn như vậy, sống trong nhân gian nay còn mai mất, nhiều khi ngoảnh lại tựa giấc chiêm bao; nào khổ đau, nào vui sướng, nào công danh, nào sầu vướng. Mấy ai đoán được ngày mai. Đó thảy đều là mộng ảo, thử thách ý chí của kẻ tu hành, đó cũng là mộng ảo, che đi tầm mắt bằng lợi, tình, danh. Đó cũng là sự điểm hoá, để cho ta cất bước đi tìm.

Nhân gian đa sự. Người ta khổ không phải vì giàu nghèo, mà khổ vì luôn so sánh. Có rồi không biết chừng nào là đủ. Có một thì muốn có hai, tham lam không biết chừng. Rồi mưu mô, rồi xảo trá. Miệng lem lém tốt đẹp mà bụng dạ tối đen, nói nghĩ cho người mà thực chất toàn ích kỉ cho mình, lấy tiếng khuyên răn mà thực ra là thể hiện khoe mẽ những điều ngắn ngủn, khờ khạo đến đáng thương, hơn được người một tí là huênh hoang, kém người ta một ít là tức tối. Đâu biết rằng cửa trời sắp khép, sương độc của tuổi già, của số mệnh đang giăng đầy lối vây lấp lấy hồn đen dẫu có lâu dài cũng chỉ trăm năm què quặt

Thu về vui ngắm lá, xuân đến thích nhìn mai. Ấy là cảnh giới thuận theo tự nhiên biến hoá vô cùng, tưởng như phải xuyên qua màn bão vũ ba đào dữ dội, nhưng thực sự rất bình yên. Tâm đã vững thì dẫu bình lặng hay phong ba đều không đáng kể. Tướng tuỳ tâm sinh, vạn sự ở mình, như không có gì mà vô cùng vô tận!

Có thể bạn quan tâm:


  • Đại Lải chiều thu mênh mông hồ, người phố về quê dạ ngẩn ngơ

  • Ta nợ cuộc đời theo từng bước phong trần

  • Khúc ngân ca vào hạ: Em có về ngắm hoa Phượng cùng anh?

Comments

Popular posts from this blog

Người không tin Phật hỏi: ‘Đức Phật có oán hận, nổi giận không?’, vị tỳ kheo trả lời quá thuyết phục

Với những ai vẫn còn kiên cố cho rằng 'không thấy thì không thể tin', có lẽ sẽ phải đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác khi lắng nghe cuộc đàm thoại dưới đây giữa một vị tỳ kheo và một người không tin Phật. Tỳ kheo Nāgasena sống vào khoảng những năm 150 TCN. Câu chuyện nổi tiếng về cuộc đàm thoại giữa ông và nhà vua Ấn-Hy Lạp Di Lan Đà Vương còn lưu truyền đến ngày nay, cho thấy trí huệ của một bậc tu hành. "Ông sinh chẳng cùng thời với Phật Đà, cũng chưa từng gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, thì sao ông biết rằng có Phật Đà?" Một lần nọ Di Lan Đà Vương cố ý muốn làm khó vị tỳ kheo bèn quở trách mà rằng: "Ông sinh chẳng cùng thời với Phật Đà, cũng chưa từng gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, thì sao ông biết rằng có Phật Đà?". Vị tỳ kheo thông minh bèn hỏi lại: "Thưa đại vương, vương vị của ngài là ai truyền lại?". "Cha ta truyền lại cho ta!". "Vương vị của cha ngài do ai truyền lại?". "Ông nội ta". "Vương vị của c...

‘Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao’, câu nói thâm trầm sâu sắc, ít người thấu hiểu

Đại đa số độc giả chúng ta đều nghĩ "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao" cũng giống như câu "Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng", và đều có nghĩa là "Coi nhẹ, coi thường cái chết". Tuy nhiên ý nghĩa đích thực của nó không phải vậy. Rất nhiều người đã quen thuộc với câu thơ trong "Chinh phụ ngâm": "Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao Giã nhà đeo bức chiến bào Thét roi cầu Vị ào ào gió thu". Đây là bản dịch của nữ sỹ Đoàn Thị Điểm, còn trong bản gốc chữ Hán của Đặng Trần Côn thì 4 câu thơ trên nguyên văn như sau: "Trượng phu thiên lý chí mã cách Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao Tiện từ khuê khổn tùng chinh chiến Tây phong minh tiên xuất Vị kiều". Dịch nghĩa: "Chí bậc trượng phu rong ruổi ngoài ngàn dặm, sẵn sàng da ngựa bọc thây Thái Sơn ném xuống nhẹ như lông hồng Bèn từ biệt chốn khuê phòng (vợ) tòng quân chinh chiến Tiếng roi ngựa vang lên trong gió tây (gió thu), tráng s...

Tứ đại cổ điển hí kịch (P.2): Mẫu Đơn Đình, thiên tình sử lãng mạn thiên thu

Trong bốn vở kịch cổ điển của làng kinh kịch Trung Hoa, có hai vở nói về tình yêu và hôn nhân trong thời xưa. Nếu như đánh giá Tây Sương Kí là một vở kịch có giá trị về chủ đề này thì người ta dường như chỉ dùng nó là đòn bẩy để tô vẽ lên một vở kịch được coi là lu mờ đi cả Tây Sương Kí, đó chính là vở Mẫu Đơn Đình. Mẫu Đơn Đình hay còn gọi là Hoàn hồn ký hay Đỗ Lệ Nương mộ sắc hoàn hồn ký là một trong những vở kịch nổi tiếng trong lịch sử sân khấu Trung Quốc, do nhà soạn kịch nổi tiếng thời kỳ nhà Minh là Thang Hiển Tổ viết năm 1598 mà đến nay vẫn được người Trung Hoa nghiên cứu dựng lại và diễn xướng. Tại sao Mẫu Đơn Đình lại làm lu mờ đi Tây Sương Kí, phải chăng tính li kì và cảnh giới cũng như thông điệp của Mẫu Đơn Đình mang theo là giá trị to lớn choáng ngợp đi Tây Sương hí kịch? Mẫu Đơn Đình cũng là một thiên tình sử lãng mạn thiên thu Đỗ Lệ Nương là con gái độc nhất của quan thái thú Nam An Đỗ Bảo. Nàng vừa xinh đẹp, dịu hiền, vừa thông minh, nhanh ý. Ngay từ nhỏ được đọ...