Skip to main content

Trời cao xanh có biết, Đạo chưa đến được tâm

Tháng năm đằng đẵng
Tuế nguyệt phong vân
Thân ngoài cõi chưa nên nghiệp cả
Đạo ở trong chưa đến được tâm

Tay cầm lấy đàn chưa thuộc gảy
Nghìn dặm phù vân
Lòng đầy mệt mỏi
Mây Sở mưa Tần
Sắc trời dời đổi

Tay cầm lấy đàn chưa thuộc gảy. Nghìn dặm phù vân. (Ảnh: Pinterest.com)

Ba mươi tuổi công danh như bụi đất
Tám nghìn dặm đường mây hoà nguyệt (1)
Muôn nỗi oán ân
Tu chưa đoạn dứt
Về đâu?

Ngàn nỗi vui không xua được lúc sầu
Thời gian trôi như nước qua cầu
Không sao níu được, một bóng câu

Nghìn thu xác nằm trong bụng cá
Vạn dặm đường đạp tan sỏi đá
Rớm máu chân!

Ngàn nỗi vui không xua được lúc sầu. Thời gian trôi như nước qua cầu. (Ảnh: Pinterest.com)

Đường vô tận
Hôm nào xuân?
Đông chưa tận!
Mạt chí anh hùng vận, chợt ngộ chốn Hư Vân (2)

Thiên địa cũ
Sắp trùng tân?

Chỉ tiếc người tu tâm vẫn dở
Ưu phiền trốn trong lòng vẫn ở
Thị phi được mất sầu không?
Khoe khoang rồi lại âm thầm cho hay

Chỉ tiếc người tu tâm vẫn dở. Ưu phiền trốn trong lòng vẫn ở. (Ảnh: Pinterest.com)

Bế tâm đoạn dứt lòng này
Vô tâm mang lấy trời mây vô thường.

Vạn Lý Khách

(1) Mượn ý hai câu bài Mãn Giang Hồng của Nhạc Phi nguyên soái
(2) Hư Vân: Một thiền sư đắc đạo Phật giáo thời cận đại.

Tiểu mục Văn thơ là bức ký họa thơ ca, tản văn mà chuyên mục Nghệ Thuật Thời báo Đại Kỷ Nguyên muốn dành tặng cho độc giả, để tìm về nơi thuần khiết sâu thẳm nhất của chính mình, như một nốt lặng trầm quý giá trong bản nhạc cuộc sống thường nhật ồn ào, sôi động.

Có thể bạn quan tâm:


  • Sáng ơi, tiếng hót sao lành? Ta cất đấy, giữa trời xanh mây vàng…

  • Sáng nào cũng bình yên, chỉ là do tâm động, hãy nhìn sông không sóng, đang miệt mài trôi nghiêng…

  • Vô thường: Dù đã yêu hay hận thù quá độ, đều sẽ nằm yên, nghe gió thổi rì rào…

  • Ai còn ai mất sau một kiếp? Mấy ai thấu suốt cõi vô thường!

Comments

Popular posts from this blog

Người không tin Phật hỏi: ‘Đức Phật có oán hận, nổi giận không?’, vị tỳ kheo trả lời quá thuyết phục

Với những ai vẫn còn kiên cố cho rằng 'không thấy thì không thể tin', có lẽ sẽ phải đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác khi lắng nghe cuộc đàm thoại dưới đây giữa một vị tỳ kheo và một người không tin Phật. Tỳ kheo Nāgasena sống vào khoảng những năm 150 TCN. Câu chuyện nổi tiếng về cuộc đàm thoại giữa ông và nhà vua Ấn-Hy Lạp Di Lan Đà Vương còn lưu truyền đến ngày nay, cho thấy trí huệ của một bậc tu hành. "Ông sinh chẳng cùng thời với Phật Đà, cũng chưa từng gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, thì sao ông biết rằng có Phật Đà?" Một lần nọ Di Lan Đà Vương cố ý muốn làm khó vị tỳ kheo bèn quở trách mà rằng: "Ông sinh chẳng cùng thời với Phật Đà, cũng chưa từng gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, thì sao ông biết rằng có Phật Đà?". Vị tỳ kheo thông minh bèn hỏi lại: "Thưa đại vương, vương vị của ngài là ai truyền lại?". "Cha ta truyền lại cho ta!". "Vương vị của cha ngài do ai truyền lại?". "Ông nội ta". "Vương vị của c...

‘Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao’, câu nói thâm trầm sâu sắc, ít người thấu hiểu

Đại đa số độc giả chúng ta đều nghĩ "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao" cũng giống như câu "Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng", và đều có nghĩa là "Coi nhẹ, coi thường cái chết". Tuy nhiên ý nghĩa đích thực của nó không phải vậy. Rất nhiều người đã quen thuộc với câu thơ trong "Chinh phụ ngâm": "Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao Giã nhà đeo bức chiến bào Thét roi cầu Vị ào ào gió thu". Đây là bản dịch của nữ sỹ Đoàn Thị Điểm, còn trong bản gốc chữ Hán của Đặng Trần Côn thì 4 câu thơ trên nguyên văn như sau: "Trượng phu thiên lý chí mã cách Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao Tiện từ khuê khổn tùng chinh chiến Tây phong minh tiên xuất Vị kiều". Dịch nghĩa: "Chí bậc trượng phu rong ruổi ngoài ngàn dặm, sẵn sàng da ngựa bọc thây Thái Sơn ném xuống nhẹ như lông hồng Bèn từ biệt chốn khuê phòng (vợ) tòng quân chinh chiến Tiếng roi ngựa vang lên trong gió tây (gió thu), tráng s...

Tứ đại cổ điển hí kịch (P.2): Mẫu Đơn Đình, thiên tình sử lãng mạn thiên thu

Trong bốn vở kịch cổ điển của làng kinh kịch Trung Hoa, có hai vở nói về tình yêu và hôn nhân trong thời xưa. Nếu như đánh giá Tây Sương Kí là một vở kịch có giá trị về chủ đề này thì người ta dường như chỉ dùng nó là đòn bẩy để tô vẽ lên một vở kịch được coi là lu mờ đi cả Tây Sương Kí, đó chính là vở Mẫu Đơn Đình. Mẫu Đơn Đình hay còn gọi là Hoàn hồn ký hay Đỗ Lệ Nương mộ sắc hoàn hồn ký là một trong những vở kịch nổi tiếng trong lịch sử sân khấu Trung Quốc, do nhà soạn kịch nổi tiếng thời kỳ nhà Minh là Thang Hiển Tổ viết năm 1598 mà đến nay vẫn được người Trung Hoa nghiên cứu dựng lại và diễn xướng. Tại sao Mẫu Đơn Đình lại làm lu mờ đi Tây Sương Kí, phải chăng tính li kì và cảnh giới cũng như thông điệp của Mẫu Đơn Đình mang theo là giá trị to lớn choáng ngợp đi Tây Sương hí kịch? Mẫu Đơn Đình cũng là một thiên tình sử lãng mạn thiên thu Đỗ Lệ Nương là con gái độc nhất của quan thái thú Nam An Đỗ Bảo. Nàng vừa xinh đẹp, dịu hiền, vừa thông minh, nhanh ý. Ngay từ nhỏ được đọ...