Skip to main content

Người Việt ăn thịt chó bị bắt ở Đài Loan: Khi miếng ăn là miếng tồi tàn

Thời báo Đài Bắc (Taipei Times) hôm 27/10 đưa tin, 17 người lao động Việt Nam bị phát hiện ăn thịt chó sau một cú điện thoại trình báo tới Cơ quan Thanh tra Sức khỏe và Bảo vệ Động vật Đài Loan. Hai người giết chó và nấu thịt có thể phải đối diện với bản án 2 năm tù và nộp phạt 64.000 USD, trong khi 15 người còn lại có thể phải nộp phạt 8.000 USD mỗi người vì ăn thịt chó.

Chó bị giết thịt chỉ là chó hoang, ngoài ra còn có 3 con khác đang bị xích trong căn hộ để chuẩn bị đem đi giết thịt. Nhưng dù là chó vô chủ, lao động Việt Nam vẫn phạm pháp, vì từ năm 2017, Đài Loan đã thông qua Đạo luật Bảo vệ Động vật, trong đó có cấm việc giết và ăn thịt chó mèo.

Câu chuyện ăn thịt chó vẫn là một cuộc tranh luận chưa có hồi kết ở Việt Nam. Nhưng ở nhiều nơi trên thế giới, người ta đã đặt cho nó một dấu chấm xuống dòng, để thay vì tranh cãi họ đã thực hành theo một hướng đi chung. Và chắc hẳn điều họ thấy có lợi là nhiều hơn so với việc mất đi một món ẩm thực, một miếng ăn, vốn chỉ là "miếng tồi tàn".

Miếng ăn là miếng tồi tàn

Sử Ký xưa có câu: "Vương giả dĩ dân vi thiên, nhi dân dĩ thực vi thiên", nghĩa là bậc quân vương lấy sự no ấm của dân làm trời, dân lấy miếng ăn làm trời. Đời nào cũng vậy, đời sống của dân mà không đủ đầy, phải lo chạy cơm từng bữa, thì vương triều dù hùng mạnh đến đâu cũng sẽ đi tới chỗ sụp đổ. No cái bụng chẳng phải là nhu cầu cơ bản nhất của con người để sinh tồn?

Nhưng từ việc ăn để sống tới sống để ăn, giữa đó là lằn ranh phân định nhu cầu tối thiểu và dục vọng vô độ. Đói nghèo sinh ra đê hèn đã đành nhưng chẳng đến nỗi chết vì thiếu ăn, mà để lại ô danh vì miếng ăn thì còn nhục nhã hơn.

Từ việc ăn để sống tới sống để ăn, giữa đó là lằn ranh phân định nhu cầu tối thiểu và dục vọng vô độ. (Ảnh minh họa: pressa.tv)

Xưa dưới thời vua Trần Thái Tông có vị quan tên Hoàng Cự Đà. Có lần nhà vua ban xoài cho người hầu cận, Cự Đà không được phần, đem lòng oán giận.

Năm Đinh Tị (1257), quân Nguyên sang tới Đông Bộ Đầu. Quân ta chống không nổi. Vua và triều thần phải bỏ kinh đô, chạy về đóng ở bên sông Thiên Mục tỉnh Hưng Yên. Cự Đà xuôi dòng chạy trốn, gặp Thái tử Trần Khoán đi thuyền ngược lên. Thái Tử gọi Cự Đà, hỏi: "Quân giặc hiện ở đâu?".

Cự Đà lạnh lùng đáp: "Không biết, tìm bọn được ăn xoài mà hỏi", vừa đáp vừa bơi thuyền đi thẳng.

Thái tử đã xin phép vua khép Cự Đà vào cực hình để răn những kẻ làm tôi bất trung. Nhưng vua chỉ nói:

"Cự Đà tội đáng giết cả họ, song đời xưa đã có chuyện Dương Châm không được ăn thịt dê, đến nỗi làm quân nước Trịnh bị thua. Việc Cự Đà là lỗi ở ta, tha cho hắn tội chết, cho phép hắn đánh giặc chuộc tội" – (Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư).

May cho Cự Đà là vua Trần anh minh, bao dung. Chứ chỉ vì miếng xoài mà để bị chém đầu thì lãng nhách quá. Nhưng dù có được sống, Cự Đà cũng đã mang nỗi nhục vì bất Nhân, bất Trí, bất Trung, bất Nghĩa.

Vì thế người xưa mới có câu:

Miếng ăn là miếng tồi tàn
Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu.

Miếng ăn chỉ tồi khi dùng để thỏa mãn lòng dục

Người ta ăn là để tồn tại, chứ không phải ăn để thỏa lòng dục. Mở rộng danh sách những thứ ăn được bất chấp sự mất cân bằng của thiên nhiên, bất chấp giá cả, bất chấp hình thức làm thịt kinh hoàng, thậm chí bất chấp luật pháp, là một hành động thừa thãi và ngạo mạn của con người.

Những quốc gia cấm ăn thịt chó mèo có thể cũng chẳng đưa ra được lý do thuyết phục cho người Việt Nam. Nhưng ít nhất điều luật của họ giới hạn được dục vọng vô độ của người dân. Việc tranh luận xem ăn thịt chó với ăn thịt gà thì cái nào vô nhân đạo hơn chẳng quan trọng bằng kiềm chế dục vọng thèm khát đưa mọi thứ lên bàn ăn của con người. Ăn thịt chim bồ câu ở một số nước cũng bị coi khinh như ăn thịt chó ở Đài Loan vậy.

Việc tranh luận xem ăn thịt chó với ăn thịt gà thì cái nào vô nhân đạo hơn chẳng quan trọng bằng kiềm chế dục vọng thèm khát đưa mọi thứ lên bàn ăn của con người. (Ảnh minh họa: pressa.tv)

Bởi trong tư tưởng của họ có một sự phân biệt vô hình rằng cái gì là thực phẩm, được thiên nhiên cung cấp cho con người để sinh tồn, và mọi sinh mệnh đều có thiên chức riêng của mình. Trong điều kiện chưa bị đe dọa đến tính mạng, thì việc ăn bất kể thứ gì mình thích dù nó phải dùng đến những cách thức ghê rợn thì đó là dục vọng.

Nói tới dục vọng, có câu chuyện về vị hành giả hỏi lão hòa thượng về khái niệm trừu tượng này. Vị hòa thường bảo hành giả hãy quay lại vào ngày mai nhưng đừng ăn gì cho tới lúc đó. Vị hành giả bụng đói cồn cào sau môt ngày không ăn, tới gặp hòa thượng và được bảo hãy lên rừng hái táo đang chín mọng. Anh ta hái rất nhiều nhưng chỉ ăn được hai quả là no bụng, nên phải khệ nệ vác hết số táo đã hái trên lưng trên đường về.

Lúc này hòa thượng mới nói: "Đối với mỗi người chúng ta, kỳ thực những thứ mà chúng ta cần có thể chỉ nhỏ bé như là hai quả táo, và những dục vọng còn lại chẳng qua chỉ là một chút vướng víu, phiền toái không dùng được mà thôi!".

Với những lao động Việt bị bắt phạt ở Đài Loan vì giết và ăn thịt chó, có thể họ chẳng hề đói khát đến mức có thể chết ngay. Họ chỉ vì nhớ miếng dồi chó, thèm miếng rựa mận mà kéo phiền toái tới với mình.

Muốn loại bỏ dục vọng ăn uống thì không ăn thịt con gì nữa?

Có người sẽ nói, ăn thịt chó hay ăn thịt gà thì cũng đều là dục vọng. Có phải cứ loại bỏ lòng dục thì không được ăn gì nữa? Đó là cách phản biện không có lý trí và làm quá lên cái lý luận đang không thuận với quan điểm cá nhân của nhiều người.

Con người được sinh ra trong Đất Trời thì cũng được ban cho những điều kiện để sinh tồn. Các loài vật sinh ra cũng là để cho con người lúc cần thì dùng tới, nhờ sức, nhờ thịt, hay nhờ tiếng gáy, tiếng sủa. Nhưng không có nghĩa là con người có quyền lạm dụng. Giống như việc chúng ta thật ra chỉ cần hai quả táo mà cuối cùng vặt cả cây táo vậy.

Mọi vật mọi việc được sinh ra đều là có thiên chức riêng, vậy nên con người không nên vì dục vọng mà làm xáo trộn. (Ảnh minh họa: pressa.tv)

Và cuối cùng thì, Luật Bảo vệ Động vật của Đài Loan hóa ra lại chẳng phải chỉ để bảo vệ loài chó, mà còn là bảo vệ chính loài người. Để ta không buông thả, băng hoại dần đi vì khát khao thỏa mãn dục vọng của mình.

Trong Hiếu Kinh, Khổng Tử cũng từng nói: "Chặt một cây, giết một con thú, nếu không phải lúc, chẳng phải là hiếu". Chữ hiếu ở đây có thể là hiếu hảo mà cũng có thể là hiếu thuận, đều có ý nghĩa sâu sắc cả. Nói chẳng phải hiếu thuận là ý bất kính với Thiên Địa – cũng như cha mẹ cho ta sinh mệnh và điều kiện tự nhiên thuận lợi để sinh tồn. Thế thì ăn một miếng thịt chó vào lúc chẳng cần thiết thì cũng là không đúng so với tư tưởng kính Thiên ái Nhân của người xưa.

Cùng là một miếng ăn, trong lúc cấp bách có thể to như Trời, nhưng trong lúc không cần thiết mà vẫn bất chấp mọi thứ để có được nó thì là miếng nhục, miếng tồi tàn. Người quân tử ăn chẳng cầu no, thì sao còn cầu độc lạ, sướng cái khẩu vị. Bởi cuối cùng, ăn cũng chỉ là để sống, mà sống thì là để cho ra dáng người tử tế.

Thuần Dương

Có thể bạn quan tâm:


  • Hà Nội kêu gọi không ăn thịt chó: Hãy xem cổ nhân đối đãi với cầm thú ra sao

  • Chú chó rơi nước mắt khi được cứu khỏi lò mổ – Xin đừng ăn thịt chó, đừng tiếp tay cho tội ác…

Comments

Popular posts from this blog

Người không tin Phật hỏi: ‘Đức Phật có oán hận, nổi giận không?’, vị tỳ kheo trả lời quá thuyết phục

Với những ai vẫn còn kiên cố cho rằng 'không thấy thì không thể tin', có lẽ sẽ phải đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác khi lắng nghe cuộc đàm thoại dưới đây giữa một vị tỳ kheo và một người không tin Phật. Tỳ kheo Nāgasena sống vào khoảng những năm 150 TCN. Câu chuyện nổi tiếng về cuộc đàm thoại giữa ông và nhà vua Ấn-Hy Lạp Di Lan Đà Vương còn lưu truyền đến ngày nay, cho thấy trí huệ của một bậc tu hành. "Ông sinh chẳng cùng thời với Phật Đà, cũng chưa từng gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, thì sao ông biết rằng có Phật Đà?" Một lần nọ Di Lan Đà Vương cố ý muốn làm khó vị tỳ kheo bèn quở trách mà rằng: "Ông sinh chẳng cùng thời với Phật Đà, cũng chưa từng gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, thì sao ông biết rằng có Phật Đà?". Vị tỳ kheo thông minh bèn hỏi lại: "Thưa đại vương, vương vị của ngài là ai truyền lại?". "Cha ta truyền lại cho ta!". "Vương vị của cha ngài do ai truyền lại?". "Ông nội ta". "Vương vị của c...

‘Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao’, câu nói thâm trầm sâu sắc, ít người thấu hiểu

Đại đa số độc giả chúng ta đều nghĩ "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao" cũng giống như câu "Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng", và đều có nghĩa là "Coi nhẹ, coi thường cái chết". Tuy nhiên ý nghĩa đích thực của nó không phải vậy. Rất nhiều người đã quen thuộc với câu thơ trong "Chinh phụ ngâm": "Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao Giã nhà đeo bức chiến bào Thét roi cầu Vị ào ào gió thu". Đây là bản dịch của nữ sỹ Đoàn Thị Điểm, còn trong bản gốc chữ Hán của Đặng Trần Côn thì 4 câu thơ trên nguyên văn như sau: "Trượng phu thiên lý chí mã cách Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao Tiện từ khuê khổn tùng chinh chiến Tây phong minh tiên xuất Vị kiều". Dịch nghĩa: "Chí bậc trượng phu rong ruổi ngoài ngàn dặm, sẵn sàng da ngựa bọc thây Thái Sơn ném xuống nhẹ như lông hồng Bèn từ biệt chốn khuê phòng (vợ) tòng quân chinh chiến Tiếng roi ngựa vang lên trong gió tây (gió thu), tráng s...

Tứ đại cổ điển hí kịch (P.2): Mẫu Đơn Đình, thiên tình sử lãng mạn thiên thu

Trong bốn vở kịch cổ điển của làng kinh kịch Trung Hoa, có hai vở nói về tình yêu và hôn nhân trong thời xưa. Nếu như đánh giá Tây Sương Kí là một vở kịch có giá trị về chủ đề này thì người ta dường như chỉ dùng nó là đòn bẩy để tô vẽ lên một vở kịch được coi là lu mờ đi cả Tây Sương Kí, đó chính là vở Mẫu Đơn Đình. Mẫu Đơn Đình hay còn gọi là Hoàn hồn ký hay Đỗ Lệ Nương mộ sắc hoàn hồn ký là một trong những vở kịch nổi tiếng trong lịch sử sân khấu Trung Quốc, do nhà soạn kịch nổi tiếng thời kỳ nhà Minh là Thang Hiển Tổ viết năm 1598 mà đến nay vẫn được người Trung Hoa nghiên cứu dựng lại và diễn xướng. Tại sao Mẫu Đơn Đình lại làm lu mờ đi Tây Sương Kí, phải chăng tính li kì và cảnh giới cũng như thông điệp của Mẫu Đơn Đình mang theo là giá trị to lớn choáng ngợp đi Tây Sương hí kịch? Mẫu Đơn Đình cũng là một thiên tình sử lãng mạn thiên thu Đỗ Lệ Nương là con gái độc nhất của quan thái thú Nam An Đỗ Bảo. Nàng vừa xinh đẹp, dịu hiền, vừa thông minh, nhanh ý. Ngay từ nhỏ được đọ...